Công dụng của quả sấu

Công dụng của quả sấuCây mọc ở rừng nửa rụng lá, trên đất đỏ sâu hoặc sâu trung bình giữa 200-600m từ Lạng Sơn, Bắc thái tới vùng đồng bằng ven biển và cao nguyên Trung Bộ, ít gặp ở vùng thượng du Nam Bộ. Cây cũng thường được trồng ở nhiều nơi để lấy bóng mát và quả, ưa trồng ở nơi đất cát pha. Thu hái quả vào tháng 7-9; rửa sạch, dùng tươi nấu canh hay lấy cơm quả làm tương giấm hay mứt sấu.
Thành phần hoá học: Quả sấu chín chứa 80% nước, 1% acid hữu cơ, 1,3% protid, 8,2% glucid, 2,7% cellulose, 0,8% tro, 100mg% calcium, 44mg% phosphor, với sắt và 3mg% vitamin C.
Tác dụng: Quả có vị chua, hơi ngọt, tính mát; có tác dụng kiện vi sinh tân, tiêu thực, chỉ khát.
Công dụng
Quả sấu xanh dùng nấu canh chua, khi luộc rau muống, người ta thường cho quả sấu vào để có được bát canh vừa chua vừa ngọt. canh sấu cho người bệnh ăn có tác dụng làm ngon miệng và cũng tăng cường tiêu hoá. Quả sấu chín dùng ăn hay làm mứt sấu chữa bệnh ngứa cổ khó chịu, làm lông đờm, thanh giọng. Nếu hấp với đường dùng làm thuốc giải khát. Giầm với gừng, đường và ớt thành món ăn có tác dụng tiêu thực. Quả sấu cũng dùng trị bệnh nhiệt miệng khát, giải say rượu, chữa phong độc khắp mình nổi mần, mụn cóc, sưng lở, ngứa hoặc đau. Lá dùng nấu nước rửa chữa mụn loét, hoại tử. Vỏ thân dùng trị bỏng và tử cung xuất huyết (theo công năng).
Phụ nữ ốm nghén, nấu canh quả sấu ăn với cá diếc hay thịt vịt cũng chóng lành. Người ta dùng quả giã trị ngứa lở, ăn uống không tiêu: còn vỏ rễ được dùng trị sưng vú.
Đơn thuốc
Chữa ho: Dùng 400g cùi sấu ngậm với ít muối hoặc sắc nước rồi cho đường đủ ngọt, uống 2-3 lần trong ngày. Hoặc dùng 8-20g hoa, quả, nước 300ml sắc còn 100ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Hoặc dùng hoa hấp với mật ong để làm thuốc chữa ho cho trẻ em.
Thanh long
Thanh long là loại thân leo trườn dài tới 10m, bám vào giá thể những rễ phụ. Thân màu lục, có 3 cạnh dẹp khía tai bèo, thường hóa sừng ở các mép, gai không nhiều lắm, rất ngắn. Hoa có đường kính tới 30cm, màu trắng hay vàng dợt. Lá đài và cánh hoa nhiều, dính nhau thành ống, nhị nhiều. Quả màu đỏ đỏ, mọng nước, có phiến hoa còn lại, đường kính khoảng 12cm, có nạc trắng. Hạt nhiều, nhỏ, màu đen.
Gốc từ Mêhicô cho tới Côlômbia, thường được trồng cho leo lên các cây to, lên tường để lấy quả ăn ngon. Ta có thể thu hái vào mùa hè- thu, dùng tươi hay phơi khô. Thân thu hái quanh năm, thường dùng tươi.
Thành phần hóa học: Cây chứa hentriacontane và a-sitosterol.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *