Công dụng của quả quýt

Công dụng của quả quýtGốc ở Ấn Độ và Trung Quốc, được trồng khắp nơi để lấy quả, nhiều nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Hà Bắc, Bắc Thái. Thu hái quả chín, bóc lấy vỏ phơi khô làm trần bì, trần bì để càng lâu càng tốt; để lấy vỏ quả ngoài gọt hết lớp vỏ trong, quả còn xanh bóc lấy vỏ phơi khô dùng làm thanh bì. Hạt quýt lấy ở quả chín phơi khô làm quất hạch.
Thành phần hoá học: Trong vỏ có 2 loại dầu, loại dầu cam 0,50% và loại dầu cam rụng 0,50%. Thành phần chính trong dầu là d và dl-limonen 78,5%, dvà dl-limonene 2,5% tương ứng với 2 loại dầu và linalool 15,4%. Còn có một ít citrale, các aldehyd nonylic và decylic và chừng 1% methyl anthranylat methyl.
Dịch của quả chứa đường và acid amin tự do, acid citric, vitamin, carotene. Lá cũng chứa 0,5% tinh dầu. Hạt cũng có tinh dầu.
Tác dụng
Quả quýt (chủ yếu là dịch) vị chua ngọt, tính mát có tác dụng giải khát, mát phổi, khai uất, trừ đờm, khoan khoái.
Vỏ quả quýt và lá quýt đều có tinh dầu, có tác dụng chữa ho đờm và giúp tiêu hoá.
Vỏ quýt xanh vị đắng, cay, tính ấm, có tác dụng hành khí, khai uất, tán kết, trừ thấp, giảm đau và tăng tiêu hoá.
Vỏ quýt chín vị đắng the, mùi thơm tính ấm; có tác dụng hành khí, tiêu đờm trệ, kiên tỳ, táo thấp.
Lá và hạt quýt có vị đắng the, mùi thơm, tính bình; có tác dụng hành khí, tiêu viêm.
Công dụng
Ta thường dùng quả quýt để ăn, có tác dụng bồi bổ cơ thể, giải khát, thêm vitamin, vỏ và lá để chế tinh dầu.
Trần bì (vỏ quýt chín) dùng chữa ho, tức ngực, nhiều đờm, trúng thực đầy bụng, đau bụng, ợ hơi, nôn mửa, ỉa lỏng còn dùng trừ thấp, lợi tiểu, giải độc cá tanh. Ngày dùng 4-16g dạng thuốc sắc.
Thanh bì dùng chữa đau gan, tức ngực, đau mạng sườn, sốt rét.
Hạt quýt dùng chữa sa ruột, hòn dái sưng đau, viêm tuyến vú, tắc tia sữa.
Ta còn dùng lá chữa tức ngực, ho, đau bụng, sưng vú, núm vú nứt lở (sao nóng đắp, có khi phơi khô sắc uống như vỏ quýt).
Liều dùng 4-12 vỏ, 6-12 hạt , lá.
Roi
Roi là cây gỗ có kích thước trung bình (10-12). Lá hình ngọn giáo, hơi thon hẹp ở gốc, thon dài mảnh ở phía đầu, cứng, có điểm tuyến trong suốt, 13-20cm, rộng 3-5cm; cuống lá ngắn. Hoa trắng hình xanh xanh, to, thành chùm ít hoa ở ngọn, hoar a tháng 2 đến tháng 5. Quả mọng gần hình cầu; đường kính 30cm, trong đài hoa tồn tại, nạc, xốp, ít nước ngọt, thơm; quả ra từ tháng 6 đến tháng 8.
Loại cây này phân vùng Ấn Độ – Malaysia, cho Inđônêxia. Cũng được trồng ở nhiều xứ nhiệt đới, nước ta, thường thấy mọc ở những nơi ẩm, ven suối, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Sơn La cho tới các tỉnh phía nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *